thien dia quyet phong van truyen ky mobi army game avatar thanh tuong game android khi phach anh hung game di tinh tai avatar tai iwin game win Skip to content

Tin từ Diễn đàn QBFC


Kênh Video CauCaQuangBinh.Com

Những đứa trẻ xóm Bàu PDF Print E-mail
Written by Truongthanh1981   
Wednesday, 01 February 2012 19:29

Vậy mà xóm tôi cũng vui vầy, chắc thuở ấy các mợ các cụ đồng lứa "hò ơ" "thấy người ta ăn cá mình vá chài" hay sao mà cả xóm toàn là con nít đều đều đứa nào đứa nấy bụng ỏng mông chổng như đít con vịt. Ghẻ lở thì không mà hắc lào cả ổ, đứa nào cũng đen trùng trục. Bọn trẻ nghịch ngợm và háu ăn hết chỗ, hễ trong xóm có thứ gì ăn được thì đêm đến kéo nhau đi xơi trộm. Nào là mía là ổi... có ai siêng trồng được có hoa có trái chưa kịp mừng thì đã trở thành của chung của cả bọn... 

 

 

 

 
 
Những đứa trẻ xóm Bàu


Bài : Truongthanh1981
Ảnh: Sưu tầm




 


Hồ nước ngọt Bàu Tró

Xóm Bàu của tôi ở Hải Thành tọa lạc chỗ "cao cồn" cát trắng phía bắc của thành phố Đồng Hới - Quảng Bình. Gọi là xóm Bàu vì thực ra xóm ở gần Bàu Tró, một di chỉ khảo cổ học, một đia danh, thắng cảnh quen thuộc hầu như ai ai cũng biết.

Bàu Tró, hồ nước ngọt trong xanh cung cấp nước sinh hoạt cho cả thành phố, chỉ cách biển, cửa Nhật Lệ một quảng ngắn theo đường chim bay. Nơi đây từng in đậm dấu chân của người Việt Cổ - Văn hóa bàu Tró có niên đại từ mấy nghìn năm được các nhà khảo cổ học khai quật các hiện vật bằng đá như búa, dao, rìu và các nông cụ khác... Vào khoảng những thập niên 70, 80 bàu được bao phủ lên mình những tin đồn bí ẩn gây không ít sự tò mò với nhiều người và ngay cả báo chí thời đó.

Tương truyền rằng, hồ Bàu Tró độ sâu ở trung tâm không có đáy vì nó đã được thông ra biển. Nhiều người kháo nhau khi thả một quả bưởi xuống bàu, ba ngày sau sẽ tìm thấy ở ngoài biển... Và người chẳng may bị chết đuối thì cũng bị như thế hoặc sẽ không tìm tìm thấy xác... v.v.

Vâng, người ta đồn như thế cũng đúng thôi, đã bao đời nay đã có ai chứng kiến bàu bị cạn bao giờ. Tôi còn nhớ như y hơn 20 năm về trước. Năm ấy hạn ít mưa, mực nước rút xuống thấp và đổ dồn chếch về hướng đông bắc. Nắng nóng lớp thanh niên trai tráng trong làng rủ nhau ra tắm rất đông, có nhiều anh tò mò thách nhau lặn xuống đáy lấy bùn thử tài lặn sâu... nhưng vẫn không có kết quả.

Có người nghĩ ra được một kế... lấy vài ba cây sào chắp lại với nhau dài đến cả chục mét bơi ra cùng nhau cắm xuống... cắm le cả lưỡi... ngờ đâu cũng chẳng thấy nhằm nhò gì. Không tới được đáy hoảng quá ai nấy đều vứt lấy sào mà chạy bơi cả vào bờ, đã thế có người khi bơi còn hét toáng lên "Ma ! Ma rà bọn bây ơi".

Trở về với lại những ngày xa xưa trong miền ký ức, tâm trạng tôi không khỏi bồi hồi .. xóm Bàu tôi nghèo lắm, nghèo không tưởng nổi.
Cả xóm vỏn vẹn trên dưới ba mươi ngôi nhà lá mái phất phơ. "Đói ăn cát khát thì uống nước bàu" chỉ vậy thôi chứ đòi gì hơn... Làm gì sánh nổi với các miền quê nghèo có trâu, bò, lợn, gà và "hương đồng cỏ nội"... Khô rát chẳng trồng nổi rau màu, chỉ có ít phi lao, xương rồng... nên cát vẫn là người bạn thân của cả xóm và nguồn sống duy nhất vẫn là nước.

Nước là khởi nguồn của sự sống

Vậy mà xóm tôi cũng vui vầy, chắc thuở ấy các mợ các cụ đồng lứa "hò ơ" "thấy người ta ăn cá mình vá chài" hay sao mà cả xóm toàn là con nít đều đều đứa nào đứa nấy bụng ỏng mông chổng như đít con vịt. Ghẻ lở thì không mà hắc lào cả ổ, đứa nào cũng đen trùng trục. Bọn trẻ nghịch ngợm và háu ăn hết chỗ, hễ trong xóm có thứ gì ăn được thì đêm đến kéo nhau đi xơi trộm. Nào là mía là ổi... có ai siêng trồng được có hoa có trái chưa kịp mừng thì đã trở thành của chung của cả bọn.

Cả xóm không vườn, nên chẳng bao giờ có "dậu mông tơi" chỉ có nhà mới riêng, đường đi lối lại cũng chẳng phải bàn... và ngẫu nhiên phần còn lại là cái sân cực rộng, là của tất thảy mọi người.

Nghèo mà được cái là hay chung, âu cũng là thứ hạnh phúc nhỏ, như thể có "phúc cùng hưởng, họa cùng chia". Từ miếng ăn củ khoai củ sắn trong xóm đều xúm lại chia cho đều với bọn trẻ con chúng tôi nghe ới mà được ăn là cứ chạy cho thật nhanh từ nhà nọ sang đến nhà kia là sướng lắm ! Mà đã ăn chung, uống chung, ngủ chung... rồi thậm chí đêm đến còn rủ nhau đi "ỉa chung" nữa cơ chứ , đi ỉa kiểu này khoái dễ sợ... ỉa đến đâu vùi đến đó trên những cồn bãi cát trắng mênh mông.

Hầu hết các ông bố bà mẹ lam lũ đều theo mùa sông biển hoặc bán buôn cả ngày vài hũ nước mắm, mớ cá khô... đong đếm mớ gạo mớ rau, còn bọn trẻ con chúng tôi ê a quanh quẩn dưới mép bàu hết đùa nghịch lại rủ nhau làm rớ buộc cần câu cá bống cát, loại cá còn nhỏ vàng vàng lấm từng hạt li ti ở trên lưng.

Cá bống ở bàu nhiều, nhiều như cám cứ phải dùng cám rang bỏ vào rớ mà cất, cả tôm tép cũng vậy. Những con to bằng ngón tay ngón chân thì phải câu chứ không cất được, thấy có bóng người chúng phóng ra khỏi rớ ngay.

Câu cá bống ở bàu khoái lắm, nhiều người buộc một lúc năm đến sáu lưỡi nhỏ thả mồi xuống rê một lúc kéo lên được cả dây cá. Ở xung quanh bàu toàn cát chỉ có nơi cỏ mọc lưa thưa, và hồi đó cá tràu, cá trắm, cá chép thì to khủng khiếp... Cá tràu mà trên cả chục cân là bình thường, có những con trắm vài ba chục cân mà dân chài lưới trong làng đánh bắt được gánh về xẻ ra từng khúc để lộ một lớp da dày như da trâu, còn bộ trứng vàng hươm to như cả buồng hoa chuối.

Theo lời kể của dân câu trong làng mấy chục năm về trước có ông cụ câu được con cá tràu to đến hai người gánh cái đuôi chạm phải đất. Hôm đó đang câu thì gặp phải trộ mưa giông, mây ùn ùn kéo đến trời đất tối sầm cả lại. Kinh nghiệm lâu năm mách bảo, những con cá to thường ăn mồi vào thời điểm động trời hay khi thời tiết chuyển giao mà tích trữ năng lượng chứ bình thường khó mà câu được chúng. Cụ vẫn kiên nhẫn nán lại phục cho bằng được với hy vọng "đi đêm nhiều sẽ gặp ma"... Và chính vào thời điểm đó "ông trời đãi cho cụ".. Con cá tràu gần ba chục cân ngoạm lấy mồi xé phăng cả mặt nước lao đi.. nhưng dù có khỏe đến mấy nó cũng không thể thoát được "lưỡi câu tử thần" của ông cụ có thâm niên mấy chục năm hành nghề câu biển. Cụ bình tĩnh nẻ từng vòng cước, lừa tới lừa lui làm cá đuối sức cả nữa giờ đồng hồ sau rồi hô hoán nhờ người giữ hộ. Con cá được rê đến sát mép bàu, lúc đó cũng vừa có anh con trai ra phụ giúp. Hai ông con nhảy xuống nước bình tĩnh bợ tay hất lùa cá lên bờ. Thật đúng là con cá tràu to khủng khiếp.

Cá ở đây to là thế vì cả mấy nghìn năm nay có khi nào cạn nước, đáy sâu và hơn thế vị trí của Bàu Tró có hình lòng chảo mà xung quanh là đồi cát, lượng mưa khi trút xuống đều đổ dồn và ngấm về đây. Nói bàu không có đáy hoàn toàn không có cơ sở mà chỉ có thể bàu không bao giờ cạn. Mực nước Bàu Tró có độ sâu trên 12 mét.

Bàu Tró giờ được bao phủ một màu xanh {góc máy chụp từ phía biển}
 

 

Những đứa trẻ xóm bàu


Bàu Tró, cái tên nghe thật quen mà cũng lạ, vì là địa danh cổ với chức năng là cung cấp nguồn nước sinh hoạt được bao bởi một khuôn viên xây dựng nên rất ít người có dịp đặt chân đến. Cũng có người đã sống gần trọn cả đời vậy mà khi nhắc đến bàu mới giật nẩy.. hóa ra từ xưa tới giờ mình vẫn đang sống bằng nguồn nước sinh hoạt của nó. Điều này cũng chẳng lạ, cũng tương tự như khi bưng bát cơm mấy ai nghĩ được hạt gạo này trồng ở nơi đâu?


Có nhiều người thắc mắc, tại sao lại là Bàu Tró ? từ "Tró" có ý nghĩa gì, xuất phát từ đâu ? .. Thật khó mà giải thích được bởi nó thuộc về phạm trù ngôn ngữ học mà ngôn ngữ Việt Nam thật đa dạng phong phú, hơn thế các hiện tượng nói chêch âm từ trong nhân gian xưa nay vẫn thường xẫy ra nhiều và làm cho cái câu "tró" càng trở thêm phần khó hiểu.

Nhớ xưa kia theo lời kể của các bậc cao niên.. ở Bàu Tró có một cái Miếu, bên trong người ta thờ một hạt "Trú" rất to, tức là hạt Trấu {hạt Thóc} theo cách gọi của người dân bản địa thì hạt Trú cũng có nghĩa là hạt Thóc, Lúa Gạo, cầu mong đất trời, thần linh phù hộ cho hạt "Trú" sinh sôi nảy nở và cũng vì lẽ đó mà không ít người đã hình dung ra hiện tượng nói chệch âm từ gì chăng?.. Hay cũng vì khi xưa Bàu chưa có có tên nên người ta gọi là bàu To vì thấy bàu rộng lớn, rồi cũng theo cách nói chệch âm lâu dần trở thành Bàu Tó. Nhưng vì cách phát âm của hai miền Bắc, Nam nên chữ "tó" thành "chó".. cũng như chữ "Trời" thành "chời" nên mới sinh ra là "Bàu Tró" vậy.. vv..
...

Làng Hải Thành tôi khi xưa vốn thuộc thuần ngư tự bao đời mà tôi chẳng rõ.. có lẽ từ đời cụ của cụ tôi, rồi đến đời bố của bố tôi.. còn xa hơn nữa thì chỉ có các cụ tổ lão tổ của làng mới biết...


Cái nghiệp đi biển cơ cực không kể xiết bởi phong ba bão tố luôn rình rập. Thời đó thuyền bè ngư cụ lưới chài thật thô sơ nên các ngư dân phải là những người có tay nghề câu thật giỏi thiện , kinh nghiệm đầy mình thì đánh mới bắt được những loài cá to và họ cũng được chủ tàu thuyền ưu đãi trọng dụng.

Các phương tiện đánh bắt mỗi chuyến ra khơi chỉ vài ngày, trên mỗi thuyền cùng lắm chỉ từ 5 đến 7 người chủ yếu người ta đánh bắt *cá đèn* và câu được những loài cá như cá Ngừ, Thu, Nghéo {tức cá Mập} và nhiều loài cá khác.. đặc biệt hơn hồi đó người ta câu cả tôm Hùm, mỗi con tôm Hùm có khi lên đến cả vài cân. Để câu tôm Hùm được nhiều hiệu quả người ta phải dùng mồi câu là con Cóc cậu của ông trời, đem lột da vứt ruột rồi móc vào phía trên lưỡi câu rường một chút. Con tôm Hùm rất thích thịt Cóc, chúng xúm lại ôm lấy mồi và cứ thế người ta giật câu cũng y như là câu Mực vậy.

Nguồn cá ở biển thật nhiều và vô cùng tận, để câu được các loải có giá trị kinh tế cao thì phải có nghề và phải rành nghề. Mực nước ở biển rất sâu, các loài cá cũng ăn mồi ở những mức nước khác nhau nên không phải cứ thả mồi xuống là câu được loài cá mình cần.


Bố tôi kể rằng, thời đó cụ nội tôi thuộc hàng tay câu cự phách, mỗi chuyến ra khơi cụ câu được rất nhiều cá, có con lên đến vài chục cân và thậm chí có những con lên đến ba bốn tạ, phải mất đến vài giờ đồng mới bắt được chúng. Câu những con cá to như vậy thì sự hiểm nguy luôn rình rập và rất khó lường trước hậu quả.. ví như loài cá Nghéo chúng rất khỏe và hung tợn, khi bị dính mồi chúng vùng vẫy ầm ầm trên mặt nước rồi bất thần quay ngược lại xông thẳng vào tấn công cả người câu. Có thể nói người câu phải thật là dũng cảm và đôi khi còn bất chấp cả tín mạng.


Cụ nội tôi sinh được 3 anh em trai, bố tôi là út. Sau bao năm vật lộn cúng sóng biển cả nhà cũng chắt bóp dành dụm chút ít rồi vay mướn thêm đóng mới được con thuyền "khơ khớ" đủ để có hướng mà sinh nhai mai sau già cả không đi biển được thì cũng có chổ cho con cái rồi phần cũng có chổ mà để nương tựa. Thế nhưng ông trời có bao giờ ngồi yên và biển cũng chẳng bao giờ lặng,cũng như nhiều người khác trong một lần ra khơi ấy, sóng biển bão tố đã cướp đi tất cả...

Đã "sinh nghề thì tử vì nghề", trong tất cả các nghề, nghề đi biển là tệ hơn cả Biến đã cho những thứ ta cần rồi cũng lấy đi những thứ ta có. Xưa thì trắng tay nay vẩn vậy, gia tài để lại cho con cháu chỉ là một vài cái ống câu, cần câu dựng ở xó nhà và những nỗi niềm đau đáu tiếc thương day dứt !...
.....


Nghiệp ngư nói chung ở đâu cũng vậy, sức có dư thừa mà việc thì lại thiếu, cứ đến mùa mưa bão thì ngồi chơi xơi nước nghỉ hẳn cho đến hết năm. Ở làng tôi trai tráng phải rủ nhau đánh bắt các loài nước ngọt, đi câu cá tràu, thả lưới, bẩy chim trên các cánh đồng ao hồ ở Đồng Hới để kiếm kế sinh nhai.
Con trai Hải Thành nhìn có vẻ khô khan chất phác, hể cứ ra khỏi làng là người ta nhận ra ngay.
Hồi đó ở Đồng Hới thường đặt ra những câu thơ bài vè để chọc ghẹo châm chọc mà những đứa trẻ thời đó rêu rao. Đại loại như:

Hải Thành câu cá Lờn Bơn
Câu dằm cục cứt dăn răng mà cười
...
Hay:

Hải Thành ở chổ cao cồn
Mồng 2 Tháng 9 xẻo ..ồn nấu canh.


Nghỉ mà tức thật.. tức quá chịu không được thì phải goánh nhau thôi, lỡ thua thì cũng phải chịu.. thua keo này thì bày keo khác.
Hồi đó đám trai trẻ trong làng nghịch ngợm đáo để, ở đầu làng có cái sân chiếu bóng, những đêm chiếu phim hay, phim hay nhất phải là những phim truyện chiến đấu của Liên Xô. Người dân và con trai các làng khác nô nức kéo đến xem đông như hội. Đám trẻ tranh nhau ngồi trước màn ảnh rộng để xem cho rõ, cái màn ảnh được ngăn cách bởi một bức tường. phía sau bức tường ấy đám trai làng tôi đã chuẩn bị sẵn vài quả Pháo buộc vào bao bóng cộng thêm một ít phân bò... Ở trong khi phim đang đến độ hay, khán giả ngước mắt hồi hộp theo dõi.. bỗng: "Bùm ! Bùm".. Hỡi ơi.. xác pháo... phân trâu bò từ trên trời lã chã rơi xuống như mưa, đám đông chen lấn bỏ chạy, các trai trẻ khác làng bị một phen hú hồn hú vía.


Từ xưa đến giờ ở Đồng Hới con trai Hải Thành được xem là hiền lành quanh năm chỉ quanh quẩn lụi cụi với nghề,.. Tôi có đứa bạn trong xóm năm mười bốn mười lăm tuổi bổng dưng bỏ hẳn nghề đi biển theo bạn đi câu cá Tràu, thả lưới và bẩy chim cò, hầu như trên mảnh đất Quảng bình này nơi nào hắn cũng đặt chân đến. Hỏi thì hắn bảo là : "Thầy bói phán số mình chết trôi chết nước" ... nhìn kỹ hóa ra hắn có một nốt ruồi nằm ngay ở nếp nhăn ở trên má chạy từ khóe mũi,. và hắn cũng tin là như vậy. Mọi người bảo hắn là tuổi con "Cò con Vạc" bởi hắn thường đi câu cắm và bẫy chim vào ban đêm trên khắp các cánh đồng lân cận. So với bạn bè cùng lứa thì không bằng được người ta, hắn mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ nên phải sống với chị gái.. với hắn chị là Mẹ.. Hắn sống âm trầm ít nói, sớm khuy vất vả lăn lộn kiếm được con cá, con chim đem gửi chị bán dành dụm từng miếng cơm ăn manh áo mặc. Hắn có một cái nghề đó là bẩy Nhông, bẩy nhông thì không nhiều người biết mà hắn thì rất giỏi.

Con Nhông chỉ sống trên các đồi cát thân hình giống như con Tắc Kè chạy rất nhanh nhưng lại sống trong hang, cái lỗ hang của chúng chỉ nhỏ bằng cái cán rạ và ăn sâu vào lòng cát. Phải nói con Nhông có một bản năng sinh tồn kỳ lạ trên những đồi cát chói chang, những trưa hè như thiêu đốt mà không hề có một sinh vật nào tồn tại, không hiểu chúng ăn gì, uống gì ở đây. Chúng có thể sống trong hang gần cả tháng trời mà không ăn uống gì mỗi khi cái hang bị sự cố hay khi kẻ thù rình rập, nếu cần thiết chúng sẽ tự cắn đuôi của mình làm thức ăn để thoát qua cơn hoạn nạn.


Đi bẫy Nhông hay đào đào bới để bắt cũng là thú vui trên cát, trước tiên là xác định được cái lỗ hang phải có viết chân của nó nằm ở miệng hang rồi mới đặt bẩy.. cái bẩy làm bằng ống tre hoặc ống nước bằng nhựa cắt ngắn luồn vào miệng hang, ngay miệng ống làm một đoạn cước thắt thòng lộng và buộc vào cái cần tre vót thật nhỏ cho có độ dẻo. con Nhông từ trong hang chui ra hay trở về đều bị dính phải cái dây thòng này ,chúng càng giẩy dụa sợi dây càng thắt chặt.

Mỗi năm cứ độ hè về từ khoảng tháng 5 tháng 6 lũ trẻ trong xóm rủ nhau di bắt Nhông trên các đồi cát khu vực xung quanh bàu Tró và bờ cát trải dài theo biển nhât lệ. Muốn bắt được nhiều thì trước tiên phải đi lùa lùng sục khắp nơi cho chúng quay về nấp trong tổ rồi mới thay nhau đào bới mà bắt. Nhông thường làm tổ ở những gốc phi lao ăn sâu vào lòng cát đôi khi mỗi hang được thông nhau với cái hang khác nên cũng không dễ mà bắt được chúng.

Con Nhông được xem là đặc sản của miền quê cát trắng, thịt của nó thơm và bổ dưỡng nhưng thời đó nhiều người vẫn sợ cứ nghĩ rằng nó cũng như con Tắc kè, Trắn Mối.. thậm chí có người nhìn thấy đã phát hoảng chứ đừng nói là làm thịt để ăn.
.....
...

Con Nhông hay còn gọi là Kỳ Nhông sống trên cát cũng chỉ là thí dụ nhỏ về sự sinh tồn cũng giống như cây Xương Rồng đã sống cũng phải thích nghi và hòa hợp với môi trường sống của nó cho dù "bà mẹ của thiên nhiên" có khắc nghiệt đến mấy thì điều tất yếu là phải tự vươn mình mà sống.. ấy là lẽ của tự nhiên.



Con người ta sinh ra dù ở nơi nào cũng không nằm ngoài lẽ của tự nhiên ấy, cũng phải biết và ảnh hưởng ít nhiều về phong tục tập quán, đời sống nghi lễ nghi thức .. hay nói cụ thể hơn là nếp sống sinh hoạt văn hóa cộng đồng đã được hình thành từ xa xưa mà cha ông ta để lại. Thật ý nghĩa vì nó đi vào vào tiềm thức của chúng ta khi nói về quê cha đất tổ của mình.

Không biết từ bao đời nay ở làng chài Hải Thành quê tôi cứ đến mổi dịp rằm tháng 4 người ta tổ chức lể hội cúng giố bái vọng biển cả đất trời tổ tiên mà nay là Lể Hội Cầu Ngư người dân trong làng từ già đến trẻ đều nô nức tham gia tuy cuộc sống thời bấy giờ còn khó khăn thiếu thốn nhưng nhà nhà đều thành tâm nguyện tự mình đóng góp gọi là lễ vật cho mâm cổ chung của làng. Lễ Hội cầu Ngư được tổ ở cửa biển Nhật Lệ, người dân lập nên cái đàn cao đến mấy trượng và sân khấu rộng bằng gỗ mặt và tre nứa. Phía trên đàn đăt hương án và treo các cờ Họ, cờ phướn, ở dưới nước là các loại thuyền bè được kết lại với nhau tạo thành một khối trông thật hoàng tráng. Để chuẩn bị cho Lễ Cầu Ngư thì phải có sự chung lòng chung sức của cả làng và tất cả đều có mặt đầy đủ. Nghi lễ diễn ra trong không khí trang nghiêm hồi tưởng, tưởng nhớ và nguyện cầu cho những người đã khuất... Cầu nguyện cho các hương hồn cô quạnh quanh năm lạnh lẽo ở biển khơi.

Lễ đăng đàn được bắt đầu từ đầu giờ chiều cho đến tận đêm khuy khi màn đêm buông xuống trên cửa Nhật Lệ, đèn nến được thắp lên soi sáng cả một vùng và lung linh cả mặt nước biển. Các cụ bô lão vận áo dài khăn đống, các nam thanh nữ tú xếp thành hàng tay cầm khua mái.. Tất cả hướng về đất trời, biển cả, người có công đã khuất và những hương hồn.. Cầu mong cho trời yên bển lặng, mưa thuận gió hòa để vụ mùa được bội thu, cá tôm đầy thuyền, người dân được ấm no hạnh phúc.v.v.

Có thể nói lễ hội là một nét đẹp truyền thống văn hóa mang tính tâm linh từ xưa mà tổ tiên ông bà để lại cho con cháu của những vùng miền sông nước nói chung và làng tôi nói riêng mà tất cả cũng chỉ là để hướng về cội nguồn, hướng đến những điều tốt đẹp.



Mùa xuân lại về trên quê hương, xóm Bàu của tôi hoa mai vàng hé nở thấp thoáng sau những mái ngói đỏ hồng bất chợt ta lại nhớ về ký ức ngày xưa mà lòng tự hỏi : "Ngày xưa nghèo lắm, nghèo thế mà sao nó vẫn vui "? chắc có lẽ vui hơn cả bây giờ.. Nhưng liệu ta có thể quay trở lại và vui như những ngày xưa không ? Sao lại không được nhỉ ?

Đất nước đang phát triển từng ngày, cuộc sống bây giờ đã đổi khác không còn lam lũ cực khổ như ngày xưa. Cái "làng xã thuần ngư ngày ấy" nay chỉ còn lại số lẻ của làng, đa số mọi người dân đều chuyển đổi ngành nghề kinh doanh buôn bán, nhà hàng, khách sạn các dịch vụ vui chơi giải trí đua nhau mọc lên choáng ngợp cả đất trời. Ngôi làng nghèo và "xóm nhà lá" của tôi nay bỗng trở thành địa điểm kinh doanh thu hút khách du lịch bốn phương hay từ mọi miền quê Tổ Quốc. Chạy dọc bờ biển là bãi tắm Nhật Lệ, mỗi năm đó đến hàng chục nghìn lượt khách đổ về vui chơi nghỉ dưỡng.. dòng người tấp nập hối hả mãi miết trôi theo cỗ máy của thời gian.

Có lẽ tất mọi thứ đều đã được đổi thay hoàn toàn nhưng hình như vẫn còn đâu đó nơi chốn "phồn hoa cao cồn" này vẫn còn nguyên một điểm đến mà chúng ta sẽ không bao giờ thấy và có thể thay đổi được.. đó là Di Chỉ Bàu Tró - Viên Ngọc Xanh trên cát vẫn âm thầm ngày đêm lặng lẽ ban tặng cho chúng ta nguồn sống duy nhất và vô tận.

Với tất cả chúng ta và những ai đã được sinh ra trên mảnh đất thiêng liêng nắng gió này đều mãi mãi chỉ là những đứa trẻ "Những Đứa Trẻ Xóm Bàu" và những đứa trẻ của nền Văn Minh - Văn Hóa Bàu Tró mà thôi.

 

Đồng Hới, xuân 2012

Truongthanh1981
Ảnh: Sưu tầm

 

Thảo luận

Last Updated ( Friday, 03 February 2012 07:35 )
 

Quảng cáo

Bạn bè bốn phương

Thống kê BĐ 15/8/2008

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday1548
mod_vvisit_counterYesterday2771
mod_vvisit_counterThis week10518
mod_vvisit_counterThis month28118
mod_vvisit_counterAll1544271
We have 77 guests online