Skip to content
You are here: Home Việt Nam quê hương tôi Quảng bình, mảnh đất, con người Nghề câu ở Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình

Tin từ Diễn đàn QBFC


Tất niên Kỷ Sủu 2009 - QBFC

Nghề câu ở Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình PDF Print E-mail
Written by Nguyễn Anh Vũ   
Thursday, 20 August 2009 16:45

Nghề câu vốn là nghề truyền thống cổ xưa của người xứ biển Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình.

Kể từ khi còn là dân vạn chài chia nhau từng khúc sông làm “trộ”, trộ Nhất, trộ Nhì, trộ Đồn, trộ Cạn… thì người xưa ở đây đã từng sống với nghề câu, và cũng từng tiến ra biển khơi với nghề đó.

 

Giới thiệu về nghề câu ở Thanh Trạch


Làng ven sông Gianh xã Thanh Trạch

Nghề câu vốn là nghề truyền thống cổ xưa của người xứ biển Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình.

Kể từ khi còn là dân vạn chài chia nhau từng khúc sông làm “trộ”, trộ Nhất, trộ Nhì, trộ Đồn, trộ Cạn… thì người xưa ở đây đã từng sống với nghề câu, và cũng từng tiến ra biển khơi với nghề đó.

Nghề câu có hai loại: loại câu cần và loại câu vàn, còn gọi là bủa câu. Nghề này khó, đặc biệt là đối với câu cần thì lại càng rất khó. Nó đòi hỏi phải thông hiểu trăng, nước rất tường tận, thông hiểu ngư trường rất chính xác, nói cách khác là phải nắm được quy luật sinh trưởng của mỗi loại cá ở từng khúc sông, bến nước, tính toán được thời tiết, thời gian… ví như con cá nào ưa mồi nào, chịu ăn lúc nào, trong giờ trăng nào, ở con nước nào chẳng hạn ! Con cá mú có lối sống khác với con cá hanh; con cá móm có sự ưa thích khác con cá rìa; con cá buôi sinh trưởng khác con cá ngứa… thật là muôn màu muôn vẻ. Nó không giống như bủa lưới. Bủa lưới, chẳng qua là vây bắt, còn câu thì phải “mời mọc” anh “xơi cho” (!) và khi đã mời mọc thì của mời, cách mời là một nghệ thuật, chứ không đơn giản. Ở bủa lưới thì lưới càng dài, càng rộng thì vây bắt càng được nhiều, còn ở bủa câu, hay câu, không phải lưỡi câu nào cũng bén cá.

Tuy nhiên, dù câu hay bủa, dù lưới hay chài, người xưa cũng đặt cho cái nghề bắt con cá gọi là đánh cá! Đánh, chính tự cái từ này khẳng định tính “kỹ thuật” của nó, giống như đánh giặc, đánh trận vậy, đều phải có quy luật riêng.

Ngay giữa câu cần với câu vàn cũng đã khác nhau nhiều. Một cái cần câu, chỉ có một ống cuốn và một số dây dài nhất định không quá 30 sải, chỉ móc được một hay hai lưỡi câu. Nhưng dù năm bảy lưỡi mà không phải lưỡi nào cũng đều được cá cả, trong khi đó, vàn câu thì không hạn chế chiều dài, lưỡi câu, có khi vài ba trăm lưỡi. Nhiều loại cá có thể cùng mắc một lần trong một vàn. Do đó, câu vàn có năng suất cao hơn câu ống. Chính vì thế mà câu vàn cũng có kỹ thuật riêng.

Mặc dầu khi các loại nghề này tiến ra biển, trước đây câu lộng, nay ra câu khơi, thì cái vốn kiến thức trên sông nước của người xưa vẫn còn được ứng dụng! (dĩ nhiên, tuỳ từng trường hợp). Ví dụ, ngày xưa, một vàn câu, câu cá bẹ, cá ngứa chẳng hạn, có khoảng 20 chặng, mỗi chặng từ 30 đến 45 lưỡi, mỗi lưỡi cách nhau độ một sải rưỡi, có một phao nâng và hòn đá làm thăng bằng. Mồi bằng tôm đang sống. Tôm này phải mua của những người đơm nò ở trong sông, nuôi lại đem ra biển, móc mồi tôm đòi hỏi phài khéo tay, không cho con tôm chết, bảo đảm cho con mồi phải bơi lội bình thường thì con cá mới “mê”, mồi chết các chú cá ngứa, cá bè không thèm “chơi” ! Bí quyết của việc móc mồi này là móc ở đằng đầu, cạnh mang của miệng mà phải tránh đừng cho lưỡi câu chạm vào bộ phận gạch của tôm.

Việc buộc các thẻo câu cũng vậy. Phải tuỳ lúc biển có sóng hay không, đánh ở làn nước nào. Ví dụ: biển có sóng lớn thì cá đi ra xa bờ, ta phải theo ra; sóng êm thì cá đi vào, ta lại thả vào. Phải đợi trăng đợi nước. Trăng mọc nước máy, trăng xế nước dừng là những lúc cá cắn câu “đắt” nhất. Ở làn nước bảy, tám sải, nếu biển có sóng thì nâng lưỡi câu lên hỏng đáy độ hai sải, nếu lúc nước không chảy thì tăng cao lên bốn hay năm sải. Con cá thường xuống sâu khi mặt biển xao động, lên cao khi mặt biển đứng êm. Việc sử dụng phao, thì đúng lúc là những bí quyết mà người bủa câu bất kỳ khơi hay lộng cần phải thông thạo. Đó là những kinh nghiệm “sống” trong nghề.

Bủa câu thường tiến hành vào ban ngày. Nhưng gặp lúc sáng trăng như các ngày mười bốn, rằm, mười sáu (lịch âm) mà trời thanh bể lặng, người ta cũng bủa đêm. Bủa đêm lại có cách thức riêng nữa.

*
* *

Nghề đánh cá đèn, bủa mành, bủa chà


Dãy núi Lệ Đệ xã Thanh Trạch

Ngày nay, với sự tiến bộ khoa học, người đánh cá bờ nam sông Gianh không còn dùng những ngư cụ với chất liệu cổ xưa nữa mà thay bằng những ngư cụ kiểu mới. Ví dụ như: xưa dùng đồng làm lưỡi câu, nay dùng thép; xưa dùng gai, tơ, làm dây, nay dùng bằng cước, sợi ni lông; xưa một vàn câu 20 chặng, nay vô hạn; xưa phải mua mồi tôm sống đem theo, nay dùng mồi cá đánh ngay tại chỗ (không bị phụ thuộc về mua của người khác)… nhưng các kiến thức về trăng, về nươc, về kinh nghiệm “theo đuôi” con cá thì căn bản các nhà ngư nghiệp ở đây vẫn ứng dụng linh hoạt vốn sống truyền thống cổ xưa.

Cho đến nay, nghề câu khơi vẫn là nghề có thu nhập cao, do có sản phẩm xuất khẩu. So với thời xưa, nó không bằng nghề lưới. Đó là một sự thay đổi đáng chú ý.

Bên cạnh câu khơi là nghề đánh cá đèn! Nghề này vốn xuất xứ từ nghề bủa mành, bủa chà. Xưa kia, người ta phải tạo ra nơi cá ở bằng cách trồng (thả thì đúng hơn) những cây tre, gọi là chà, ở biển. Chung quanh tre, kết nhiều lá cây, như lá muồng, lá dừa, lá dứa dại... cho có bóng mát, cá sẽ tập trung sinh sống. Ngày nay, không cần cây chà mà người ta gọi cá bằng ánh sáng điện với diện rộng; con cá say mê, đóng đèn, đến nỗi không nghe tiếng máy nổ, có khi lưới vây sát lưng mà chưa hay biết. Lưới đánh cá này bây giờ cũng không dùng lưới vây, lưới dắt nữa mà dùng lối cất vó; thu nhập cao ngang với các nghề đánh cá cho xuất khẩu khác. Nó cũng song hành với nghề câu tiến ra khơi. Nhờ có tàu to, máy lớn, tốc độ nhanh, nhờ lối ướp cá bằng đá lạnh, dù có cách bờ xa khơi, các thuyền đèn cập bến lúc nào cũng kịp chợ với chất lượng sản phảm tươi ngon. Nghề cá đèn lại hay có những lúc bội thu bất ngờ với những mẻ cá lớn, ngoài tưởng tượng, ngoài ước mơ cho nên người làng cá, hành nghề không những với trí lực tài năng của mình mà còn vin vào sự may rủi của số phận.

Lịch sử của ngọn lửa đánh cá trên sông, trên biển ở vùng sông Gianh không phải đến nay mới có ! Ông bà thủa xa xưa cũng đã từng biết thắp đèn lồng để cất vó, nhất là mùa tôm bạc; biết dùng đuốc câu mực, dùng đom đóm bỏ vào chai song sáng cho các trộ nò đơm tôm ở trong sông, trong suối… Ngày nay nghề cá đèn xuất hiện đã làm thay đổi cả một “tập quán” từ làm nghề ban ngày chuyển sang làm đêm!

Thật vậy, nếu cần có một chút ôn cố tri tân (nhớ cũ biết mới) thì chúng ta nhớ lại, thời xưa xã hội phân chia cho miền biển hai điều : ở bãi dọc, còn gọi là cửa lạch thì “nông nhàn ngư nhọc”, còn ở bãi ngang thì “nông nhọc ngư nhàn”. Nghĩa là, vùng biển có cửa lạch thì chủ yếu làm cá, ít làm ruộng (trồng trọt), và ngược lại, vùng bãi ngang xa cửa lạch, thì chủ yếu trồng trọt, ít làm cá. Thế là từ ngày xửa ngày xưa, nghề biển đã đi hai chân, chân mạnh, chân yếu nên không đều và cứ thế suốt đời nghèo khổ.

Sau khi hợp tác hoá nghề cá, đặc biệt ở bờ nam Sông Gianh, trong chế độ bao cấp, miền biển lại còn đi nhiều chân: ngư kiêm nông, kiêm luôn thủ công, kiêm cả vận tải, chế biến.v.v… Cũng có nhiều chân cho nên bước đi của nền kinh tế biển vướng với nhau, chân nào cũng ngắn, cũng cụt, không thể nhảy vọt được.

Từ ngày biết ứng dụng tiến bộ khoa học, phát triển thêm nghề khơi, người xứ biển ở đây phá đã phá vỡ những tập quán muôn đời, chôn chân vào nghề lộng, một thứ tập quán tôn sùng nghề lộng như một “Nghề cơ nghiệp” bây giờ nó xuống hàng thứ yếu! Cùng lúc, họ lại phá vỡ cả việc lấy đánh cá vụ nam làm vụ chính là nâng cao dần vị trí vụ đông thay vào vị trí cơ nghiệp cho cả năm!

Đó là những sự đổi thay hết sức quan trọng phải được xem như là kỳ diệu, bởi nó ít nhiều mang “tính cách mạng” trong nghề cá! Bởi vì, lấn biển từ lộng ra khơi là phá vỡ cả không gian, cổ truyền gần như là “thiên định” của nơi biển cá và chuyển vụ đông làm vụ chính, thay thế vụ nam, cũng là việc phá vỡ về thời gian mà bao đời hình như đã “an bài” cho người xứ biển.

Nếu nói là cách mạng nghề nghiệp thì có thể nói nghề nào ở vùng Sông Gianh này đã làm một cách mạng thay đổi cả không gian lẫn thời gian cùng lúc, thay đổi cuộc sống nhanh chóng đến như thế.

Thật vậy, ngày nay, xứ biển Thanh Trạch đã chấm sức cảnh thất nghiệp thời vụ, 6 tháng làm, 6 tháng nghĩ cổ lổ sĩ và còn là nơi có ngày lao động nhiều nhất trong năm. Họ đã chấm dứt được cái tình trạng, cứ đến mùa gió bắc xuất hiện, học theo những cánh chim di cư đi trốn đông “bay về” phương nam kiếm sống, chờ tới ngọn gió nồm nam, quay trở lại quê hương bổn quán, chấm dứt những nỗi xót xa, trăn trở, âu lo… trước thời tiết “tháng bảy nước chảy lên bờ” là “buồm treo neo gác”. Các thứ câu ca “Khó một khơi hơn giàu mười lộng” hoặc “nghề lộng tay làm hàm nhai, nghề khơi lưng dài vai rộng” xưa kia chỉ là ước mơ, nay là hiện thực.

*
* *

Nghề câu mực


Cảng Gianh

Nghề biển ở Thanh Trạch còn nhiều thứ, nhiều loại, không thể kể hết. Nay chỉ nêu lên những mặt mạnh của vùng này, trong đó có con mực và con tôm là đáng chú ý. Chúng nó đang tham gia vào danh mục thuỷ sản xuất khẩu, được các nhà máy đông lạnh thu mua mạnh.

Đối với mực, tuy là nghề truyền thống xa xưa để lại, nhưng thủa ấy ông bà chỉ biết câu và câu trong lộng, câu có mồi. Bây giờ nghề câu mực không còn ở mức câu ở mức câu mà còn phát triển ở mức bủa lưới. không còn đánh mực ở lộng mà còn tìm được mực ở nơi xa…không còn câu dùng thuốc câu mực mà dùng đèn điện cực sáng để câu mực, không cần dùng cá làm mồi mà chỉ dùng mồi giả làm bằng giấy bạc đủ màu sắc xanh đỏ, về chế biến thì không những phơi mực khô mà còn ướp mực tươi bằng đá lạnh hoặc máy lạnh.
Mực là thứ sinh vật biển rất mê say ánh sáng. Nhưng có loại mực thước đã trưởng thành lâu, dày dạn kinh nghiệm, không chịu ánh sáng. Đó là loại mực to, dài, trọng lượng nặng hơn mực thường. Bắt được chúng rất lợi, không những chúng cho trọng lượng mà còn cho chất lượng, xuất khẩu rất được khách nước ngoài ưa chuộng. Loại mực này tuy không chịu đóng đèn, nhưng không quá xa ngoài vòng sáng và quanh quẩn ở đó để kiếm ăn. Người câu mực vùng Sông Gianh đã nắm bắt được bản chất hoạt động và sinh trưởng của loại mực thước “khó tính” này… Họ sáng tạo ra cách câu thọng để vây bắt chúng.

Trước hết, người ta cải tiến cách làm chì câu mực. Chì đối với tất cả các loại câu, có mục đích đưa lưỡi câu xuống sâu và không chao động, đóng theo chiều thẳng đứng hoặc hơi chếch một chút. Riêng đối với nghề câu mực thọng, người ta phải cho chì điều khiển lưởi câu nằm ngang trong nước chứ không phải đứng để khi các con mực khó tính không chịu đóng đèn vồ mồi xong là vùng chạy ngay, khác với các con mực chịu đèn, ngậm mồi rồi còn một giây phút gặm nhấm hoặc do dự thế nào đó, liền bị người buông câu giật mạnh, chưa kịp nhả mồi (hoặc nuốt mồi) đã bị chùm lưỡi câu phía dưới móc lấy đầu, trong khi con mực câu thọng do kéo mồi chạy thì nó kéo lưỡi câu vào thân mà chịu chết.

Muốn vậy, người ta quấn chì vào một thỏi gỗ cho chì không chìm hẳn và tính toán khoảng cách cũng như trọng lượng giữa ba vật, chùm lưỡi câu – chì- mồi, làm sao mà khi thả xuống biển nó vẫn trôi ngang giống như một thứ cá đang bơi ngang trước mắt con mực trong bóng tối.

*
* *

Nghề tôm


Cảng cá xã Thanh Trạch

Về nghề tôm xuất khẩu thì thuở xưa chưa có. Nó mới xuất hiện khoảng mười năm trở lại. Người xứ biển Sông Gianh cũng mới học tập bạn bè ở miền nam truyền dạy cho. Tuy nhiên, nó là một nghề quan trọng vì nó chiếm vị trí trên thị trường hàng thuỷ sản.

Sau khi nòi giống tôm hùm ở các dãy rạn ngầm vùng biển sông bị “tiệt chủng” do những người thợ lặn lùng bắt từ trong hang ổ nơi sinh đẻ của chúng thì con tôm biển (tôm đất, tôm sú, tôm bạc…) trở thành quan trọng không kém các mặt hàng khác.

Người ta đánh tôm bằng lưới chứ không bằng câu. Lưới tôm lại rất nhiều loại, nhiều kiểu, mỗi nơi, mỗi người ứng dụng theo một cách khác nhau, các bí quyết kỹ thuật vẫn chưa được công thức hoá. Do đó, chưa thể tổng kết được để đưa vào địa chí.

*
* *

Con Ngao ở Rào Chùa

Cửa lạch Sông Gianh có một thứ sản phẩm biển gọi là Ngao lại không sinh trưởng nhiều ở biển, ở bãi ngang, mà sinh trưởng rất mạnh ở bờ sông sát biển, thậm chí ở chỗ nhập lưu Sông Rào Chùa với Sông Gianh, phía trên cửa biển khoảng hơn 1km lại càng nhiều.

Đó là một đặc trưng riêng về cấu tạo dòng chảy và chất đất của triều sông này, rất lạ đối với những triền sông khác trong tỉnh ta. Xin lấy một con sông và cửa biển lớn đứng thứ hai của Quảng Bình (sau Sông Gianh) là ví dụ, như con sông Nhật Lệ chẳng hạn.

Từ cửa Nhật Lệ theo sông Nhật Lệ đi ngược lên cũng khoảng hơn 1km (tính đường chim bay) có một chi lưu sông Lệ Kỳ (còn gọi là sông Luỹ) nhập với nó ở đoạn Cầu Dài, giống hệt như sông Rào Chùa nhập lưu với Sông Gianh ở đoạn cầu Cống Mười vậy, cả 2 nơi, hai dòng sông cũng đều là nước mặn, nơi ngã ba sông gặp nhau cùng bùn lầy, nước lên thì phủ cả lưu vực, nước xuống thì bờ bãi bày ra, dòng sông hẹp lại - thế mà Nhật Lệ không hề có một giống ngao (hến biển) nào sinh trưởng ở trong triền sông, mà giống này, chỉ có ở bãi ngang, trong những bãi cồn, ao ven biển.

Trong khi đó, ở triền sông Gianh và nay cả ở cửa sông Rào Chùa, phía dưới cầu Cống Mười thì ngao là một nguồn lợi cho dân địa phương. Hằng ngày, về mùa hè, cứ mỗi lần nước cạn, người ta dùng rổ có lỗ sưa, lội xuống dòng sông ở mức nước ngang bụng, khom lưng xúc cả bùn lên rồi chao qua chao lại cho bùn ra hết thì ngao đọng trên rổ. Một lần xúc, có khi năm bảy con, nhưng cũng khi hàng vài chục con. Trẻ em rất thích lối hành nghề vừa làm vừa chơi như thế. Một buổi, hết con nước, mỗi người cũng được vài chục cân (kể cả vỏ). Do đó, nguồn ngao này riêng ở Thanh Trạch không tiêu thụ hết, người ta phải đưa đi bán cả vào Đồng Hới.

*
* *

Nghề đóng tàu thuyền


Cửa Gianh

Cái ngộ nghĩnh ở Sông Gianh là sản vật biển mà không chịu ở biển lại vào sinh sản ở sông, còn nghề đóng thuyền ở Thanh Trạch lúc sơ khai thì chỉ là sản phẩm của dòng sông lại phát triển theo chiều rộng của biển.

Sự xuất hiện của nghề đóng thuyền ở đây đã thúc đẩy không những nghề đánh cá biển tiến lên mà còn góp phần đẩy mạnh nghề vận chuyển biển ngày càng thịnh vượng.

So với cửa lạch Nhật Lệ cũng là một nơi có truyền thống về cá biển và vận chuyển biển, nhưng do không có nghề đóng thuyển tại chỗ, nên đã hạn chế không ít sức phát triển cần có. Xưa kia, mỗi lần người Động Hải muốn ghe thuyền, phải đi đặt hàng ở cửa Gianh, ở Lý Hoà… hoặc phải rước thợ ở các nơi về đóng và các thuyền ghe “ăn” gạo ở Nam Kỳ lục tỉnh của Sông Gianh khi nào cũng có trọng tải từ 100 đến 120 tấn chạy bằng buồm, trong khi ở Lý Hoà, Sông Gianh, Cảnh Dương, việc đó bình thường, không phải do lạch cửa sông nông hay sâu bởi vì cửa lạch Động Hải (xưa cũng như nay) còn thuận lợi hơn cửa sông Lý Hoà, sông Roòn nhiều. cũng không phải do vốn đầu tư nơi này kém hơn nơi khác, hoặc rừng địa phương không có gỗ ván đủ tiêu chuẩn… Cái chính là không có cơ sở đóng thuyền tại chỗ!

*
* *

Gốc gác và sự phát triển của làng biển Thanh Trạch

Trở lại nghề đánh cá biển của xã Thanh Trạch, như ở phần khai thiết trên đây đã nói, gốc gác đời ông bà vốn là những người đánh cá sông, nhiều nơi hội tụ lại. Thuở ban đầu, đa số sống trên những chiếc thuyền câu nhỏ, không đủ chống lại với mưa to gió lớn, lênh đênh rày đây mai đó, sớm đậu cồn hoang chiều về bãi vắng, kéo dài cuộc đời “sinh vô gia cư, thác vô địa tác” (sống không có nhà ở, chết không có nhà chôn). Mãi cho đến lúc cách mạng Tháng 8 -1945 thành công, họ mới được chính quyền nhân dân cấp đất định cư, nhưng, cùng phải sau cuộc kháng chiến chống Pháp cứu nước thắng lợi, phong trào hợp tác hoá mới đưa họ vào cuộc sống ổn định và phát triển.

Khởi đầu (1960) có ba hợp tác xã được tổ chức, goi là Thanh Hải, Quảng Thịnh và Thanh Xuân. Tổng số chỉ có 27 hộ trên 58 hộ nhân dân tự nguyện hoá giá tái sản vào làm ăn tập thể, chưa thu thắng lợi gì lớn thì chiến tranh chống Mỹ lại xãy ra. Để thích ứng với thời cuộc vừa chiến đấu, vừa sản xuất, ba hợp này nhập lại lên tới hơn 1200 người. Lúc này nghề chính là bủa lưới mà câu là phụ.

Hết chiến tranh chống Mỹ (1975) hợp tác xã Xuân Hải lại chia ra làm hai đơn vị, nhưng không giống như thuở ban đầu mà gọi là: Thanh Hải và Thanh Xuân (mới). Từ 1977 đến 1978, Thanh Hải là một hợp tác xã ngư nghiệp giữ lá cờ đầu về sản xuất và quản lý của toàn tỉnh. Nhưng đến năm 1988 thì hợp cả hai cơ sở này làm một đơn vị, bao gồm ba hợp nhỏ là: Thanh Xuân, Thanh Hải và Hải Thanh.

Kể từ năm 1992, trước tình hình đổi mới của cả nước, phong trào hợp tác hoá nghề đánh cá được giải thể, thành lập thôn. Vùng biến Thanh Trạch chia làm ba thôn: Thanh Xuâ, Thanh Hải và Thanh Gianh.

Một sự kiện cần chú ý là từ năm 1988, tỉnh Bình Trị Thiên cho lập một làng cá kiểu mới, được tổ chức quốc tế P.A.O viện trợ cho một tấn lưới, 4 máy, tính ra lúc đó trị giá 20 triệu đồng tiền đương thời. Xã Thanh Trạch liền phát động tinh thần xung phong, vận động nhân dân tự nguyện đi đến điểm đã chọn, xây dựng làng kiểu mẫu, được xã viên trong hai hợp Thanh Xuân và Thanh Hải hưởng ứng, rút một số tài sản trong hai hợp ấy về cho làng mới gọi là làng cá Thanh Gianh. Cho đến 1988 thì quy hoach nhà cửa, đường sá, các tổ chức sản xuất bắt đầu ổn định, trên một vị trí khá thuận lợi về địa lý: sát sông, cạnh cửa lạch, trên trục đường giao thông của bến Cảng và xí nghiệp đánh cá của Nhà nước.

Làng cá Thanh Gianh ngày nay ăn ở theo lối bàn cờ, đường ngang ngỏ dọc thẳng tắp, mỗi nhà có vườn cây vừa đủ thoáng mát, chia thành ô đồng đều, kiểu nhà xây bê tông mái bằng với nhiều cửa chớp cửa kính sáng sủa đẹp. Trong nội thất gia đình đêu có đủ dụng cụ, giường tủ khang trang, tỏ ra cuộc sống hiện nay ở Thanh Gianh không còn thiếu thốn, chật vật.

Trong làng có trường học cấp I cho con em cả ba làng vùng biển Thanh Trạch đến học ngày hai buổi; có cơ sở đóng tàu thuyền trọng tải khá, có máy nước đá tại bến cá và rất nhiều cơ sở chiếu phim tư nhân cũng như cơ sở chế biến hàng xuất khẩu…

Một đặc điểm của làng biển bờ nam sông Gianh này là có một làng công giáo toàn tòng, chung sống, chung cư, chung nghề trong khối cộng đồng miền biển. Đó là lang Thanh Hải, gồm khoảng 120 hộ, chỉ có khoảng 12 hộ đồng bào bên lương.

Xưa kia, vốn là xóm Trường Hải, gốc người Quảng Đông (Roòn) vào đây từ thời chạy nạn Pháp đánh Văn thân. Hồi đó, chỗ xóm Trường Hải chọn đất, nay là thôn Thanh Hải, là một nơi hẻo lánh, lùm lòi rậm rạp. Ở biệt lập một mình ngoài bãi ngang. Bà con mới tới ngụ cư chuyên làm nghề cá biển, nghèo khổ, chỉ có 6 gia đình ăn ở với nhau trên tình ruột thịt, máu mủ, đồng hương, giống như một gia đình đông con vậy. Cuộc sống êm đẹp, chỉ lo tròn thuế, sưu cho địa phương rồi là yên phận. Năm đói 1944 – 1945, cũng bị chết đói hết 5 người.

Thế rồi, khi Pháp chiếm đóng, binh lính họ tràn về, chặt phá hết lùm lòi, dỡ đốt nhà cửa, bắt lính, bắt phu, cuộc đời cơ cực lại tái diễn như thuở cha ông xưa thời Văn thân cứu nước ở chính quê xứ Roòn của họ.

Năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, quân Pháp phải rút về, họ lùa cả 6 gia đình đi vào nam cùng với cả làng Thanh Bồ trong khu vực bờ nam sông Gianh. Nhưng, có hai gia đình trong sống 6 gia đình ấy không chịu đi theo Pháp, ở lại, trong khi đó, có thêm khoảng 50 gia đình người công giáo bên Mỹ Hoà (bờ bắc sông) chạy khỏi sự đuổi bắt của quân đội Pháp cưỡng bức di cư vào Nam, về đó, tập hợp lại thành một lực lượng, đoàn kết vời đồng bào địa phương ở phường Bồ Khê, thôn Thanh Hà chống lại sự cưỡng bức của người Pháp. Họ được xã, hồi đó còn gọi là xã Bắc Thanh Mỹ Hạ, giúp đỡ, định cư, xây dựng ra làng Thanh Hải ngày nay.

Là làng công giáo, nhưng vì khi quân Pháp rút khỏi đồn Quảng Khê đã phá hết nhà thờ, bắt cha xứ theo vào nam nên con chiên Thanh Hải phải đi lẻ bên các nhà thờ bờ bắc sông. Trong phong trào hợp tác hoá, bà con công giá cũng cùng vào hợp tác với địa phương. Khi ở quy mô nhỏ, khi ở quy mô lớn, từ thấp lên cao, từ thôn đến xã, vẫn một lòng gắn bó với cơ sở hợp tác, tích cực đi theo con đường tập thể, và cũng nhờ vậy, mà trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, trải qua bao nhiêu bom đạn, họ cũng cùng chiến đấu sát cánh với đồng bào bên lương và cùng làm ăn ngày càng khấm khá. Cho đến nay, trở về với kinh tế thị trường, mỗi người công giáo hay không công giáo, đã ở trong hợp tác xã, đều được chia đều 4 triệu đồng để ra làm ăn theo hướng đổi mới. Thế mà, hầu như khắp nơi vùng biển xã Thanh Trạch, đặc biệt là ở Thanh Hải và Thanh Xuân, người ngư dân nào cũng trở thành giàu có người nào cũng được xây được nhà kiểu mới, không kém gì ở làng Thanh Gianh nổi tiếng là làng mẫu!

Người hai thôn Thanh Hải, Thanh Xuân, cũng như làng, xóm vùng biển ở đây, bây giờ ăn ở xóm liền xóm, thôn liền thôn, nhà liền nhà không thể phân biệt về ranh giới, không thể phân biêt làng giàu, làng nghèo, nhà khá nhà khó nữa, tỏ ra sự tiến lên đồng đều. Xét cho cùng, đó là nhờ có đồng vốn cho vay của ngân hàng và của quỹ xóa đói giảm nghèo, cho nên nhà nào cũng có tàu thuyền, ngư cụ, đủ sức ra khơi vào lộng, và hiện nay thì không còn ai mắc nợ ngân hàng nữa.

Chỉ trong khoảng không quá năm năm, bà con công giáo Thanh Hải và Thanh Xuân đã tự tạo cho mình đủ vốn liếng, và tự làm ăn sau khi được Nhà nước cho vay lần đầu.

Riêng làng công giáo Thanh Hải, tuy là gốc công giáo toàn tòng, song những vấn đề tập quán địa phương cũng không loại trừ. Tục kiêng kỵ ở đây cũng giống như nơi khác, ví dụ như ngày Tết cũng kiêng “đạp đất” nhà bạn bè quá sớm, có tang cũng kiêng đi vui chơi đình đám, con gái lấy chồng có con đầu lòng cũng về sinh nhà mẹ đẻ, ra đi thăm viếng, buôn bán cũng kiêng mồng năm, mười bốn, hai ba… Có một điều hơi lạ là con gái công giáo Thanh Hải nếu lấy chồng bên lương thì theo chồng bỏ đạo mà cha mẹ, giáo xứ cũng không cưỡng ép, bắt buộc gì. Trong thôn, có một Chi bộ Đảng lãnh đạo. Đảng viên công giáo vẫn được toàn thể đồng bào công giáo tín nhiệm, họ cũng không hề bị kỳ thị về tôn giáo. Đảng thì đã đành không cấm việc theo đạo mà cha xứ bên họ giáo bờ bắc sông, nơi họ thường đi lễ, cũng không cấm ai vào Đảng. Việc Đảng cũng như việc Đạo hoàn toàn tự nguyện. Có lẽ, nhờ vậy mà toàn thể người Thanh Hải sống đẹp đạo đẹp đời, góp phần vào sự thịnh vượng chung cho cả xã Thanh Trạch.

*
* *


Phần kết

Tóm lại, những người xứ biển bờ nam sông Gianh, vốn là những người nghèo, từ một ống câu, một chiếc thuyền nan, là những người thợ thủ công, từ một cái bào, cái đục mà đi lên, ngày nay nắm trong tay những tiến bộ khoa học kỹ thuật của nghề mình, đang trên đà phát triển, chắc chắn họ sẽ còn đạt nhiều đỉnh cao của cuộc đời hơn nữa!

Sở dĩ vậy là ở họ, người ta thấy dù tân tiến, đổi thay đến mức nào thì vốn cũ về nghề nghiệp của cha ông để lại vẫn được trân trọng, vẫn được ứng dụng vào hoàn cảnh mới; đến cả việc “ăn quả nhớ người trồng cây”, như việc thờ cúng ông bà, biết công ơn bố mẹ… cũng đều được nâng niu, tôn ti trật tự trong gia đình, trong họ tộc thì còn nhiều điều có thể nói là “đáng khen” !

Tài liệu tham khảo : Địa chí xã Thanh Trạch do cụ Nguyễn Tú biên soạn - Nhà xuất bản Thuận Hóa - 1995

Tháng 8.2009
Chautuanvu

 

Thảo luận

 

Quảng cáo

Bạn bè bốn phương

Thống kê BĐ 15/8/2008

caucaquangbinh.comcaucaquangbinh.comcaucaquangbinh.comcaucaquangbinh.comcaucaquangbinh.comcaucaquangbinh.comcaucaquangbinh.com
caucaquangbinh.comToday495
caucaquangbinh.comYesterday518
caucaquangbinh.comThis week495
caucaquangbinh.comThis month3034
caucaquangbinh.comAll317172
We have 10 guests online